CHÀO NGÀY MỚI

PHƯỚC TỈNH KÍNH MỜI

TÀI NGUYÊN

THÔNG TIN GIA ĐÌNH

NGUYỄN PHƯỚC TỈNH.
- Năm sinh: 21/02/1978
- Giới tính: Nam
- Quê quán: Quế Lộc – Quế Sơn – Quảng Nam
- Trình độ chuyên môn: Đại học Văn
- Thành tích: Bằng khen UBND tỉnh,Bằng khen của LĐLĐ tỉnh Quảng Nam
- Sở thích: Văn thơ, bóng đá, nhạc Trịnh. Được sống gần vợ con.


NGUYỄN THỊ NHUNG
- Năm sinh: 14/01/1978
- Giới tính: Nữ
- Quê quán: Nam Phước- Duy Xuyên – Quảng Nam
- Trình độ chuyên môn: Đại học Tiếng Anh
- Thành tích: Bằng khen của UBND tỉnh
- Sở thích: Được sống gần chồng, chăm sóc con, hát Karaoke, mua sắm.

NGUYỄN PHƯỚC NGỌC MINH. .
- Năm sinh: 30/8/2007
- Giới tính: Nam
- Quê quán: Quế Lộc – Quế Sơn – Quảng Nam
- Trình độ chuyên môn: Còn nhỏ
- Thành tích: Chăm ngoan, học giỏi
- Sở thích: Xem phim hoạt hình, chơi đồ chơi siêu nhân.

LƯU GIỮ KỈ NIỆM



































Xem thêm...

CẬP NHẬT HẰNG NGÀY


Power by

HỒN QUÊ



NGHE NHẠC TRỰC TUYẾN

LIÊN KẾT WEBSITE

WEB HAY

MENU TIỆN ÍCH

LIÊN KẾT TRUY CẬP

SÁCH VÀ HOA

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • TIN NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

    Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Phước Tỉnh

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > TRANG THƠ VĂN > THƠ >

    Tuyển tập Tình Núi

    Bất chợt một buổi chiều, lòng bỗng thấy bâng khuâng khi gió lại về mơn man những chiếc lá thắm trên vòm cao đã chớm sang đông. Khắp nẻo sơn khê vẫn phủ một màu xanh bàng bạc, duyên dáng đẹp đến nao lòng. Giờ đây người ta đã nghe rét mướt luồng trong gió, mang theo hơi hướng quen thuộc của núi rừng là sự cộng hưởng của mùi lá núi, của hoa rừng, của nhựa cây, của lá thu vừa rụng, của mùa nương rẫy chín, của khói lam chiều và của mớ măng rừng trên lưng của các cô sơn nữ...

    Mấy ai đã một lần lên vùng cao mà không cảm nhận được vẻ đẹp đến nao lòng của núi rừng trong những ngày chớm đông. Chính cái vẻ đẹp đó đã khiến cho bao lữ khách tha phương một khi đến với rừng trong những ngày tại sơn chợt nghe lòng ấm lại và giúp cho những thầy cô giáo mang tri thức lên miền ngược quên bẵng đi nỗi nhớ quê nhà. Và tự bao giờ tận đáy lòng chúng ta, núi rừng đã nghiễm nhiên trở thành quê hương. Chúng ta đã gắn bó với rừng, đã yêu rừng bằng một  tình yêu sâu lắng, đằm nặng cõi lòng.

    Hãy thả bước trong chiều lắng nghe rừng tình tự, chúng ta chợt thấy lòng nhẹ lâng lâng, thấy như yêu hơn niềm tin vào con đường mà ta đã chọn. Ngày xưa, lên rừng với ý tưởng: “trồng người ở vùng cao”, chúng ta thấy phiêu diêu có khác nào trồng hoa trên sỏi đá. Song lẽ, vô hình chung, chúng ta lại được: “lâm sơn ngoạn nguyệt”, được tận hưởng những thứ tình kỳ diệu mà chỉ những nơi đại ngàn như Nam Trà My mới có. Chúng ta thầm cảm ơn tạo hóa đã ban đặc ân cho mảnh đất siêu nhiên này một vẻ đẹp hiếm thấy, đẹp đến mê hồn và một thứ tình rất lạ, rất duyên. Chúng ta phần nào đã bớt đi trăn trở và tự cho mình mỉm cười trước mạng mạch của núi rừng đang được khai sáng với tình người, tình đời, tình núi ngày càng dìu dặt, lan tỏa, mênh mang...

    Để kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tập thể CB-GV-NV trường THCS-BTCX Trà Don cho ra mắt tuyển tập Tình núi. Tình núi là những nỗi niềm tâm sự, tự tình,  là những ngày tháng không tên của những thầy cô giáo trẻ đang ngày đêm chăm những luống hoa chờ ngày kết trái, là những tiếng lòng thốt ra từ chính trái tim, là những suy tư, trăn trở đối với hồn đất và tình người nơi đại ngàn Nam Trà My yêu dấu!

    Xin  tri ân những tấm lòng đồng cảm!

                                                                       Ban biên tập

     

     

     

           Bảy năm một chặng đường

    I/ MỞ ĐẦU:

    Quy luật phát triển không đều về thể chất, tâm sinh lý, về trí lực của trẻ em nói chung, của lứa tuổi thanh thiếu niên nói riêng là tất yếu. Vì vậy nền giáo dục của các quốc gia và của Việt Nam đều phải quan tâm đến quy luật này trong hoạch định đường lối giáo dục của mình. Việc thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo đề ra mục tiêu của giáo dục là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” đã thể hiện vận dụng quy luật nói trên của Đảng và nhân dân ta. Đặc biệt Đảng ta coi trọng khâu “đào tạo nhân tài” cho đất nước.

    Thấm thoắt đến nay Trường THCS-BTCX Trà Don đã tròn 07 tuổi - một chặng đường không dài nhưng là những bước đi ban đầu đầy khó khăn thử  thách, nhất là những năm từ những ngày mới chia tách trường phổ thông cơ sở Trà Don thành hai đơn vị trường học đó là trường THCS-BTCX Trà Don và trường tiểu học Trà Don. Nó đặt ra những vấn đề cơ bản phải giải quyết.

    Xác định rõ mục tiêu của Trường THCS-BTCX Trà Don là gì? Nội dung chương trình các môn học phải như thế nào để phù hợp với đối tượng học sinh, tổ chức tuyển chọn đội ngũ giáo viên và học sinh như thế nào? Điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học, chế độ chính sách đối với thầy và trò trường chuyên biệt? Tất cả những câu hỏi đó chưa có văn bản chính thức nào của cơ quan chủ quản là Phòng GD&ĐT. Nhớ lại buổi đầu thành lập trường, ai cũng không khỏi ngậm ngùi: Toàn trường có 2 lớp với tổng số học sinh là 42 và 06 thầy cô giáo kể cả cán bộ quản lý và giáo viên; bàn ghế, giường ngủ học sinh không có, tối đến các em phải co ro bên ánh đèn dầu để học từng con chữ.

    Khi mùa đông đến, những cơn lạnh như buốt da, các em chỉ có một manh áo mỏng chống chọi với cái rét và những cơn sốt rét rừng. Thầy cô giáo không có Sách giáo viên, tài liệu tham khảo, các chuyên đề cũng không hoặc có thì rất sơ sài. Vì vậy giáo viên dạy phải “tự biên tự diễn” vừa dạy vừa học, vừa rút kinh nghiệm nhưng vẫn phải hoàn thành nhiệm vụ của một người giáo viên.

    Về cơ sở vật chất, từ năm 2002 đến năm 2009 chỉ có 4 phòng học cho khối 6, 7, 8, 9. Muốn học một ca để có phòng và thời gian cho bồi dưỡng học sinh, sinh hoạt chuyên đề, họp Hội đồng sư phạm, sinh hoạt các đoàn thể… rất khó khăn. Học sinh nội trú từ 80 – 100 học sinh (Ở thôn 3 Trà Don, Trà Linh, Trà Nam và Thôn 1 Trà Cang ) ở trong 08 phòng nên vừa chật vừa nóng nực. Phòng làm việc của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, thư viện, thiết bị, bộ môn, đa năng, nhà công vụ giáo viên cho học sinh đều không có. Các nhu cầu làm việc của các bộ phận, hành chính đều quá chật chội. Nói như vậy để thấy từ lãnh đạo đến các thầy, cô giáo đều dành ưu ái cho việc học tập của học sinh. Không có phòng làm việc nhưng phải dành các phòng chứa tất cả dụng cụ, hóa chất, bản đồ… Chủ yếu giáo viên mang dụng cụ lên lớp làm một số thí nhiệm minh hoạ bài giảng, học sinh không thể tiến hành thực hành được.

    Về chế độ chính sách học bổng, chỉ có 70.000 đồng/ 1 tháng/ 1 học sinh; giáo viên thì cũng chỉ mắm muối với rau rừng.

    II/ MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ CÁC MẶT GIÁO DỤC:

    Qua 7 năm, nhà trường đã đứng vững, phát triển cả về số lượng và chất lượng: Năm đầu thành lập trường chỉ có 2 lớp với 42 học sinh đến nay 8 lớp với 203 học sinh. Số học sinh khá giỏi cũng tăng lên đáng kể. Năm 2002 chỉ có 6 thầy cô giáo đến 2009 có 22 Cán bộ, giáo viên công nhân viên

    * Những con số thống kê nêu trên giúp chúng ta thấy được:

    Nhiệm vụ nhà trường ngày càng nặng hơn, vì số lớp, số học sinh ngày càng tăng, nhất là khi nhập thêm học sinh thôn 1 Trà Cang. Cơ sở vật chất  được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ, đến nay vẫn phải học 2 ca. Thí nghiệm, thực hành chưa đáp ứng được mới chỉ biểu diễn các thí nghiệm cho các em thấy trong giảng dạy

    Mục tiêu chủ yếu là để các em bước vào bậc Trung học phổ thông học tốt để sau này sẽ là những cán bộ phục vụ cho địa phương, đem cái văn minh về cho bản làng. Trong những năm qua học sinh từ mái trường này đã tiếp tục theo học các cấp cao hơn. Đến nay có 1 em học năm 3 Đại học sư phạm Huế đó là em Trần Hải Quỳnh và 1 em tốt nghiệp Trung cấp Tin hiện nay đang công tác tại trường đó là Hồ Văn Tiếu và còn 1 số em khác ...

    Những mặt hoạt động khác đã thể hiện việc giáo dục toàn diện trong nhà trường:

    * Phong trào thể dục thể thao:

     - Giải nhất bóng chuyền Nam trong giải thể thao học sinh năm học  20022003.

     - Giải nhất bóng chuyền Nam trong giải thể thao học sinh năm học  2003-2004.

     - Giải khuyến khích toàn đoàn trong tuần lễ thể thao giáo viên năm 2003.

              - Giải nhì toàn đoàn trong giải thể thao học sinh năm học 2005-2006.

     - Giải nhì bóng chuyền, bóng đá Nam bậc THCS năm học 2007-2008

     - Giải ba cầu lông đôi Nam giải thể thao học sinh năm học 2007-2008

     - Giải ba toàn đoàn trong giải thể thao học sinh năm học 2007-2008

              - Giải nhất bóng chuyền Nam trong tuần lễ thể thao giáo viên năm 2007.

     - Giải ba bóng chuyền Nam trong giải thể thao học sinh năm học 2008-2009

    * Phong trào văn nghệ:

    . Năm 2004: 1 giải nhì đơn ca, 1 giải nhất song ca toàn ngành Giáo dục Nam Trà My trong hội thi văn nghệ “Mừng Đảng-Mừng xuân”

    . Giải nhất toàn đoàn trong hội thi văn nghệ “Mừng Đảng-Mừng xuân” năm 2004

    . Giải khuyến khích Hội thi “ Nữ Cán bộ công chức-Viên chức  người kinh nói giỏi tiếng dân tộc năm học 2007-2008”

    . Năm 2009: 1 giải B; 1 giải C trong Hội thi Hát Dân ca CB-CNVC ngành Giáo dục huyện Nam Trà My năm 2009.

    . Giải nhì toàn đoàn trong Hội thi Hát Dân ca CB-CNVC ngành Giáo dục huyện Nam Trà My năm 2009.

    . Giải khuyến khích trong Hội thi CB – CNV người kinh nói giỏi tiếng dân tộc năm học 2009 – 2010.

    * Đoàn – Hội – Đội

              - Đạt giải tập thể trong thi viết thư quốc tế UPU với chủ đề: Tôi viết thư trao đổi với bạn em “ thiếu nhi chúng mình làm gì để giúp xóa đói giảm nghèo”

    - Đội TNTP Hồ Chí Minh ba năm liền đạt danh hiệu Đơn vị xuất sắc trong các năm học 2006-2007; 2007-2008 và 2008-2009.

    - Năm hoc 2002-2003 và 2004-2005 đạt danh hiệu trường Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Sở GD&ĐT; Phòng GD&ĐT khen tặng.

    - Năm học 2007-2008 và 2008-2009 đạt danh hiệu tập thể Lao động tiên tiến được Uỷ ban nhân dân huyện Nam Trà My khen tặng.

    - Công đoàn  4  năm liền đạt danh hiệu Công đoàn vững mạnh xuất sắc năm học 2005-2006; 2006-2007; 2007-2008; 2008-2009 và năm 2007 được công nhận cơ quan có đời sống văn hóa.

    - Năm học 2008-2009 được Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Nam tặng băng khen Công đoàn có thành tích xuất sắc trong hoạt động Công đoàn

    - Năm học 2008-2009 được Công đoàn Ngành Giáo dục tỉnh Quảng Nam tặng giấy khen Công đoàn có thành tích xuất sắc trong hoạt động Công đoàn

    - Chi bộ đạt chi bộ trong sạch vững mạnh trong các năm 2006-2007-2008.

    Về cá nhân:

    . 05 giáo viên được khen thưởng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các năm 2007-2008-2009.

    . 05 Giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp Trung học cơ sở năm học 2008-2009

    III/ BÀI HỌC RÚT RA VÀ KẾT LUẬN:

    Hiệu trưởng và tập thể sư phạm nhà trường đã xác định rõ mục tiêu của nhà trường, xây dựng khối đoàn kết nhất trí trên mục tiêu nhiệm vụ chung. Tìm nhiều biện pháp tự nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, nâng cao lương tâm và trách nhiệm của người thầy, vượt qua những khó khăn trong công tác và cuộc sống đời thường để hoàn thành nhiệm vụ của một trong những “mũi nhọn”.

    Đa số các em học sinh chăm học, có ý chí vươn lên trong học tập và rèn luyện, xác định rõ mục tiêu học tập nên đã khắc phục khó khăn, tin ở thầy, ở bạn và sự phấn đấu của mình nên đã đạt được những kết quả như mong muốn.

    Sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, sự quan tâm chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện và Phòng GD&ĐT Nam Trà My, đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Trà Don và của Hội cha mẹ học sinh đã giúp nhà trường về vật chất và tinh thần, gắn nhà trường với xã hội.Tranh thủ được sự hỗ trợ của nhiều cơ quan, ban ngành giúp nhà trường khắc phục khó khăn, duy trì phong trào thi đua 2 tốt, duy trì tốt sĩ số học sinh, hoàn thành tốt nhiệm vụ các năm học, chất lượng ngày càng được nâng cao

    IV/ KẾT LUẬN:

    Kết quả 7 năm qua của trường THCS-BTCX Trà Don chỉ là những kết quả bước đầu, song đã chứng minh cho quan điểm, đường lối chỉ đạo giáo dục của Đảng và Nhà nước ta trong việc chăm lo sự nghiệp đào tạo nhân tài là đúng đắn. Đây cũng là thành quả chung của ngành Giáo dục Trà My trước đây và Nam Trà My ngày nay.

    Trước mắt chúng ta là những năm của thế kỉ XXI, nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với sự nghiệp “trồng người”, đặc biệt là nhiệm vụ đào tạo nhân tài – chất xám, nguồn tài nguyên quý giá nhất của đất nước. Chúng tôi mong mỏi các cấp lãnh đạo của Đảng và Nhà nước quan tâm hơn nữa đến đội ngũ thầy cô giáo về mặt nâng cao trình độ kiến thức, năng lực sư phạm; về điều kiện làm việc, đời sống vật chất và tinh thần để anh chị em có thể hoàn thành trách nhiệm “đào tạo nhân tài” cho đất nước. Đầu tư về cơ sở vật chất tương xứng với nhiệm vụ được giao cho nhà trường. Cuối cùng mong rằng những kết quả đào tạo của Trường THCS-BTCX Trà Don và của các trường THCS-THPT được Ủy ban nhân dân huyện và tỉnh tạo điều kiện để học sinh trường THCS-BTCX Trà Don sẽ về phục vụ nhiều hơn cho huyện nhà và xã nhà.

     

             Võ Đăng Chín

       Hiệu trưởng Trường THCS-BTCX Trà Don.

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     (Tập thể giáo viên Tổ Khoa học  Xã hội năm học 2002-2003 )

     

    Mọi vật đều sợ thời gian bởi lớp bụi thời gian sẽ phủ mờ lên tất cả. Nhưng thời gian lại sợ các vĩ nhân bởi các vĩ nhân là trường cửu.

     Tự làng Sen, . . . ngày ấy đã thành hình một vĩ nhân trên cả các vĩ nhân – đó chính là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Nhà thơ Bảo Định  Giang đã viết :

    “Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

    Cả cuộc đời, Người không màng danh lợi. Người chỉ biết chăm lo và hy sinh cho dân tộc, nước nhà tự do, no ấm cho những kiếp đời nô lệ.

    “Sữa để em thơ, lụa tặng già”

    (Tố Hữu)

    Hôm nay ngồi đây viết về Người thì Người đã ra đi và yên nghỉ giữa ngàn thu Hà Nội, giữa lòng dân tộc đầy bóng tre trung hiếu.

    Nghĩ về Người là nghĩ về một nhân cách lớn, một tâm hồn lớn cảm hoá nhân gian. Đó là sự hoà quyện tuyệt vời những phong cách thi sĩ, nghệ sĩ, chiến sĩ và nhà giáo ưu tú. Dù tuổi cao, sức yếu, dù ở đâu, lúc nào, Người cũng dành phần nhiều thời gian dạy dỗ, bảo ban, chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Người luôn dành sự ưu ái cho ngành giáo dục và sự nghiệp trồng người cao cả, vinh quang.

    Thư Người gửi cho các cháu học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên sau năm 1945, với những lời lẽ đầy trí tuệ và sâu sắc : “. . . Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu . . .”

    Tư tưởng giáo dục của Người bao hàm và ẩn chứa trong vũ trụ những điều mà đến bây giờ vẫn vô vàn bổ ích cho ngành giáo dục :

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người”

    Sau khi nước nhà độc lập (1945) hơn 90% dân ta mù chữ, Người đã trăn trở và kịp thời đề ra giải pháp diệt “giặc dốt”để khai sáng, khai trí nhân tâm bằng phong trào “ Bình dân học vụ” ; “Nhà nhà đi học, người người đi học”, học ở trong  nhà, ngoài ngõ, ngoài đường, trước cổng làng, cổng chợ, . . .

    Đứng trên tầm cao của thời đại, Người luôn phóng tầm mắt trí tuệ, dịu hiền về phía lớp trẻ, đặc biệt là các cháu thiếu nhi, những chủ nhân của đất nước tương lai. Không năm nào đến ngày khai trường, Người lại quên gửi thư cho các cháu. Truyền thống nhân văn, trọng đạo học hành ấy vẫn còn lưu giữ đến ngày nay.

            Từ những lời dặn dò ân cần với các cháu thiếu nhi :

            “Mong các cháu cố gắng

    Thi đua học và hành

         Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

         Tuỳ theo sức của mình”

    đến những lời di chúc cuối đời vẫn còn lưu dấu : 

    “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

    Niềm mong mỏi và trăn trơ û vì thế hệ trẻ, vì sự nghiệp trồng người để suốt năm canh trường phải thao thức, Bác ơi!

    Hôm nay, chợt ngồi nghĩ lại những dòng thơ của Bác :

    “ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn

    Phần nhiều do giáo dục mà nên”

    Chợt chiêm nghiệm ra một tấm lòng sâu sắc, một niềm tin – yêu – quý mà Người đã dành cho ngành giáo dục, cho sự nghiệp trồng người, một sự nghiệp mà không bao giờ là vừa và đủ cả :

    “Học, học nữa, học mãi”

                                  (Lê Nin)

    Bác Hồ ơi! Xin Bác cứ yên nghỉ giữa lòng dân tộc . Toàn Đảng, toàn dân và tất cả chúng con, những người gieo hạt nguyện sẽ vun xới những cây đời xanh tươi cho những mùa xuân đất nước.

     

     

     

     

     
       

     

     

               

     

     

    Nguyễn Phước Tỉnh

     

    Em còn nhớ Trà Don ngày ấy

    Chiều lên thôn hai đứa đi cùng

    Đường khúc khuỷu như cổng trời trước mặt

    Hoàng hôn buông chim chiều giăng cánh lướt

    Trong xóm nghèo vang dậy tiếng ê – a.

    Đêm Trà Don hoang sơ miền cổ tích

    Nhịp chày nghiêng theo những ché rượu cần

    Đôi chân trần theo vòng xoè gọi bạn

    Trong ánh lửa lồ ô chợt sáng

    Mắt biếc xoe tròn sơn nữ ngây ngô.

    Đêm Trà Don như dài thêm vô tận

    Giấc ngủ theo về khi đã sang canh

    Tiếng cuốc kêu giữa đêm trường lẽ bạn

    Nồi cháo ngô như thách thức bạn đường.

                     ***

    Về Trà Don hôm nay hỡi bạn                         

    Xe chạy bon bon, người vui như hội

    Cầu bắt sang sông như dải lụa mềm

    Nối đôi bờ bên nhớ- bên thương

                                           Tôi rất yêu, tự bao giờ tha thiết

    Mùi khói lên vươn những nếp nhà sàn

    Trong nắng chiều còn thơm mùi nếp mớí

    Chân sơn nữ thoắt thoăn cùng tiếng nhạc

    Tiếng hát được mùa vang khắp trên nương

    Lòng bâng khuâng tôi đứng lại bên đường

    Nghe đất trời như chuyển mình thức dậy

    Tim rung ngân giữa đôi bờ Hư – Thực

    Trà Don bây giờ...ngỡ cứ như mơ.

                 

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                              Lê Kim Bảo

     

    Có một dòng sông lặng lẽ về xuôi

    Trong hoàng hôn tím

    Sông có chở nỗi niềm em

    Về nơi ấy không anh?

    Khi nhịp sống của đời đi rất vội

    Khi tình yêu hóa thân

    trong lời giảng

    Khi tiếng lòng vọng mãi

    nhịp thời gian

    Bởi mùa xuân đâu chỉ tuần hoàn

    Thời xuân sắc đi qua

    trong tháng ngày chờ đợi

    và em mãi yêu anh

    trong buồn vui lớp học

    trong tiếng đọc bài

    trong nhịp đập con tim

     

     

     

     

    .

     

     

     

    Hôm nay về lại trường xưa

    Đôi hàng phượng vĩ đong đưa đón chào

    Trên cành, lá hát lao xao

    Mà như phượng đã nhập vào lòng tôi

    Lòng tôi – giọt nắng bồi hồi

    Trường xưa… lớp cũ… thầy tôi… đâu rồi ?

    Thanh âm chi gợi bồi hồi

    Nghe y hệt giọng thầy tôi vọng về…

    Bao học trò đang học say mê…

    “ Hậu sinh khả uý ” !  Đáng ghê lời thầy.

    Về thăm trường cũ, nơi này

    Ngẩn ngơ một bóng… đợi ai bây giờ

                                                    Châu Thị Thúy

                                                    Nguyên giáo viên trường

                                                    Năm 2005-2006

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                        Nguyễn Thị Kim Thủy

     

     

    Ngày còn bé

    Con sãi chân theo mẹ

    Nghịch trò đuổi bắt

    Bởi bóng con bé nhỏ

    Không theo kịp đỉnh đầu mẹ

     

    Cười với con, với bố và gió mây

    Mẹ thách đố – nếu con bằng mẹ

    Tặng con yêu một dải ngân hà.

     

    Biết gì đâu con ao ước một điều

    Của riêng con tha hồ quậy phá.

     

    Hai mấy năm – con vượt xa đỉnh đầu mẹ

    Nhưng không thể đo

    Bởi nắng gió cuộc đời

    Cướp bóng mẹ

    Chỉ còn lại chút sức già còm cõi

    Quanh quẩn chiếu chăn . . .

                                         

    Con xa xứ không một ngày phụng dưỡng

    Sãi cánh non – không mẹ – giữa đại ngàn

    Vi vút gió, nắng, mưa và sương khói

    Đối diện chính mình, con đối diện những niềm tin .                                                 

     

     

     

     

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

    Thân tặng chị em nhân viên nhà trường

     

     

    Phía sau lớp học                      Cái nghề lo trẻ

    Có những tấm lòng                           Cũng lắm bùi ngùi.

    Những ngày nắng hạ                          ***

    Những khi mưa đông.                       Trò dăm chục đứa

                                          ***                                           Chia đến mấy mâm

    Phía sau lớp học                      Gạo ngày lên giá

                                 Quả, củ, măng rừng                 Chia, xẻ từng đồng

    Tay em hái nhặt                                Mong sao đủ ấm

    Tay em thái, bưng.                  Mong sao no lòng

                       ***                                 Cho từng trò nhỏ

    Gạo vo nước suối                    Chẳng đứa nào không.

    Măng nấu canh tươi                            ***

    Những ngày gió rét                  Phía sau lớp học

    Cực sao vẫn cười.                    Có những tấm lòng

               ***                                         Âm thầm lặng lẽ

    Phía sau lớp học                      Những ngày mùa đông.

    Bao nỗi buồn vui                                ***

                                           

                                     Nguyễn Thanh Trường

                                                                       Nguyên giáo viên của trường

                                                                                 Năm 2003 - 2005

     

          

     

     

     

     

     

    Về quê ăn tết!

    Đó là cả niềm háo hức. Dù cho bây giờ, cái “Tết quê” ở trong tôi đã bắt đầu dần phai, chỉ còn đọng lại điều gì như là trong kí ức, như sự chờ đợi hân hoan, như trong nỗi niềm đông qua rồi xuân lại đến . . . Những mùa xuân vùng quê nghèo bên sông, mai vàng ít nở, chỉ có những rặng sầu đông tim tím trắng toả hương thơm ngát một vùng. Hoa sầu đông đúng dịp xuân nở hết mình rồi tàn phai. Có lẽ đó là loài hoa ít được nhắc đến trong những câu ca hay những vần thơ ca tụng mùa xuân của những tài tử giai nhân trong trời đất thời khắc giao thừa.

    Mươi, mười lăm năm trước, ngõ nhà tôi có rất nhiều sầu đông. Mỗi mùa hoa nở thường đúng vào dịp giỗ chạp. Mấy chị, mấy cô trên phố về mê mẩn ngắm khen hoa đẹp. Rồi gọi nó là gì ấy nhỉ? Là Hoa Xoan. Đó là lần đầu tiên, tôi được biết cây sầu đông mang một cái tên đẹp như tên thiếu nữ: “Xoan” chứ không phải :“Sầu Đông”, cũng không phải “Thù Đâu” như mẹ tôi thường hay gọi.

    Xuân nhớ sầu đông là nhớ về một loài cây thân thuộc quê mình nhưng can trường giữa gió mưa, giá rét.

    Xuân nhớ sầu đông là nhớ về một loài cây hữu ích, dễ trồng, không cần chăm bón nhiều mà vẫn mau lớn.

    Không hiểu từ khi nào, những rặng sầu đông của làng tôi bị người ta đốn hết ...

    Trên nẻo đường quê, mỗi dịp tôi trở về, thi thoảng vẫn còn một vài cây sầu đông lẻ loi, khép mình bên đường. Tuổi thơ tôi có những lần đuổi bướm bắt chim trong rừng sầu đông giữa những trưa hè, bị mẹ bắt được đánh đòn đau điếng.

    Sầu đông ơi!

    Nhớ lắm làm sao quên?...

    Một mùa xuân nữa đã đến. Nắng xuân tràn ngập khắp đất trời. Mùa xuân cho ngàn hoa khoe sắc đua hương. Không còn những rặng sầu đông nở những chùm hoa tim tím trắng, báo tin xuân nhưng mùa xuân của nhân gian vẫn cứ đến...

    Riêng tôi có một mùa xuân quê mẹ với những kí ức tuổi thơ nồng ấm hương sầu đông ngan ngát quyện cùng trầm nhan, cùng bánh chưng xanh nhà nhà đón Tết.

    Xuân Ất Dậu 2005.

     

                                       Nguyễn Thị Thu

                                 Nguyên giáo viên trường

                                         Năm 2004 -2009

     

     

     

     

                                                                           

     

              

     

     

     

    Nguyễn Phước Tỉnh

     

    Ta vẫn nhớ như in ngày ấy

    Ngày Trà My chia tách làm đôi

    Dẫu biết rằng tuy hai mà một

    Nhưng lòng người sao mãi vấn vương.

    Ngày chia tay, Bắc – Nam buồn day dứt

    Người đi, kẻ ở, nhớ sao đành

    Anh - Bắc Trà My chia tay bịn rịn

    Em – Nam Trà My cất bước không đành.

                         * * *

    Bao ánh mắt bao nụ cười chợt lắng

    Để nhìn nhau trong những phút chia tay

    Bao bà mẹ cầm tay con trẻ:

    Lên đó rồi công tác tốt nghen con !

    Người vợ hiền nhìn chồng tha thiết:

    Cầu mong anh sức khoẻ dồi dào !

    Bao con trẻ nhìn cha nũng nịu:

    Không có quà con hỗng chịu đâu ?

    Và còn nữa bao nhiêu tình nhân trẻ

    Không nói gì nhưng nước mắt rưng rưng.

     

    Buồn là thế nhưng không hề bi lụy

    Dù chia tay nhưng chẳng chia li

    Tuy chia cắt nhưng Bắc – Nam là một

    Là anh em trong gian khó hào hùng.

     

    Rồi một mai Nam Trà khởi sắc

    Cùng Bắc Trà vững bước đi lên

    Và khi ấy niềm vui đoàn tụ

    Được nhân lên khi đất nước đẹp giàu.

        

                                              

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                         Con trở về thăm lại dòng sông xưa

                                                       Tắm mát tuổi thơ một thời vụng dại

                                                     Con trở về thăm ngôi trường cũ

                                                   Nơi ngày xưa, thầy dạy chữ ê, a

                                                 Con trở về sau những năm tháng cách xa

                                               Nghe vọng về ngày xưa ...

                                             Thầy dạy con đánh vần ngọng ngiụ

                                           Thầy cầm bàn tay – tay con nhỏ xíu

                                         Dòng chữ ghập ghềnh như đường đến ... tương lai

                                       Thầy vẫn miệt mài

                                     Ươm mần xanh cho ngày mai

                                  Mặc cuộc đời với bộn bề khó nhọc

                               Xin thầy hãy cho con được khóc

                             Được trở về nguyên vẹn ... tháng năm qua.

                                                                                

     

                                                                           Nguyễn Thị Thiên Nga

                                                                              Nguyên giáo viên trường

                                                                                      Năm 2005-2009

     

     

     

     

     

          

     

     

     

     

                                                                                  

     

     

    Đoàn Thị Kim Ngọc

     

    Hai chúng ta

    Chung nhau dãy Trường Sơn hùng vĩ

    Những con đường xích lại gần hơn

    Không còn xa xôi...

    Xuôi một dòng sông bên lở bên bồi

    Bao mong ước – mơ đổ về biển lớn

    Bao yêu thương vun đầy theo con sóng

    Vẫn vẹn nguyên một trái tim hồng.

     

    Tháng ba gọi về những kỉ niệm còn xanh

    Thôi thúc tuổi xuân đâu ngần ngại bước chân

    Lưu dấu  trên khắp nẻo đường  quê

    Lên ngàn xuống bể...

    Cho một ngày lịch sử.

    Dòng sông xưa vẫn đôi bờ tình tự

    Chở tháng năm trôi theo con nước vơi đầy.

    Cho lòng người mãi mãi đắm say

    Cho màu nắng ngập tràn xanh dậy cả đồi nương

    Cho đoá lan rừng nghiêng mình bên suối ngát hương...

     

                                                        Trà Don, tháng 3/2008

     

     

     

                       

     

     

     

     

     

     

     

           

           

           Có . . . !

                                                              

    Nguyễn Thị Kim Thủy

     

     

    Có một làn gió . . .

    Đuổi mây đi

    Mang màu nắng dịu ngọt

    Rắc lên ngọn đồi .

     

    Có một dòng sông . . .

    Lặng lẽ trôi

    Mang hương sắc tình yêu

    Gửi về xuôi .

     

    Có những trái tim  . . .

    Nhuộm màu xanh biếc

    Gửi chốn rừng thiêng

    Thắp lên những ngọn nến đời.

                              NGHỀ GIÁO ĐỜI TÔI

     

    Đêm đã khuya, mọi người như chìm sâu trong giấc ngủ. Chỉ còn mình tôi trong căn phòng nhỏ khu nội trú, miệt mài bên trang giáo án, chuẩn bị cho bài giảng ngày mai.

    Ngày mai lên lớp, tôi sẽ nói những gì với các em đây ? Tôi thầm nghĩ và lặng nhìn trang giáo án còn soạn dở. Ôi, đẹp quá ! Những dòng chữ nghiêng đều trên trang giấy. Tôi cảm thấy hạnh phúc và sung sướng vô cùng. Niềm hân hoan hạnh phúc ấy vì sao cứ tràn ngập mãi trong tôi vậy ? Có lẽ vì tôi là người thầy giáo. Chỉ có người thầy mới có những giây phút như vậy. Từng đêm lặng lẽ với những trang giáo án, trăn trở bao điều, làm sao để ươm được những mầm xanh vươn thẳng, góp cho đời những tia nắng hồng rực rỡ ở ngày mai.

    Soạn tiếp trang giáo án. Mân mê lật mở từng trang . . . Hình ảnh các em bé nhỏ cứ hiện lên len lỏi trong tôi, gợi tôi nhớ về một thời mơ ước . . .

    Thời gian trôi mau thêu dệt biết bao kỉ niệm của một thời áo trắng thơ mộng, trắng trong chẳng thể nào quên được . . .

    Ngày ấy, tôi – cô bé học trò ngây ngô nhìn dáng người thầy và thầm ước: “Mai này, mình được làm nghề giáo” để được đứng trên bục giảng với viên phấn trắng cầm tay, được ngắm nhìn những mái đầu xanh, những đôi mắt long lanh ngời sáng, để được rót cho các em hương thơm mật ngọt làm hành trang vào đời.

    Và niềm mơ ước ấy đã chẳng phụ lòng tôi, mà gắn chặt đời tôi qua tháng năm cùng NGHỀ GIÁO.

    Tôi đã đến với các em học sinh thân yêu bằng hành trang thầy tôi trao cho ngày ấy, bằng  tất cả tình yêu thương nơi trái tim mình. Rạo rực niềm vui dõi theo các em từng bước mai sau . . . Trên mảnh đất tình – đời đầøy khát vọng, niềm tin và nghị lực. Ôi! NGHỀ GIÁO . . . đời tôi hạnh phúc vô ngần.

     

     

                                     Triệu Hoàng Thanh Trà

                                  Nguyên giáo viên trường

                                        Năm 2003 - 2006

     

     

     

     

     

    Ngụ ngôn hiện đại

                                 Chuột và Mèo

                                                                       Nguyễn Phước Tỉnh

    Tự ngày xửa ngày xưa

    Chuyện kể rằng lũ chuột

    Tổ chức cưới linh đình

    Đám rước dâu thật xinh

    Có kiệu hoa, kèn, pháo . . .

    Đám rước đi nửa chừng

    Bỗng mèo ta xuất hiện

    Đi nghênh ngang giữa đường

    Lũ chuột như hiểu ý

    Vội khúm núm xin thưa :

    Chúng em chào quan bác

    Hôm nay họ nhà em

    Đám cưới cho thằng cả

    Xin quan bác duyệt cho

    Một chút thịt, ít cá

    Cộng thêm cái phong bì

    Chúng em gọi là quà

    Mời quan bác xơi cho.

    Mèo ta giương cặp kính

    Giọng kẻ cả khề khà :

    Chúc mừng cho thằng cả

    Ta bận việc phải đi

    Chúng mày cứ tổ chức .

    Chuyện ngày xưa đã thế

    Luật lệ bất thành văn

    Muốn cho êm xuôi chuyện

    Thì cần phải lo lót

    Đi cửa sau hoặc quà

    Người xưa sao khéo thật

    Chỉ một đám cưới chuột

    Lại có lắm điều hay./.

     

                             

     

     

                        

     

     

    Người cứ đến như cơn giông buổi sáng

    Người cứ đi như những giọt thời gian

    Còn lại mình tôi trong khu vườn rộng

    Tôi bơ vơ tìm nhặt cánh hoa rừng.

     

    Còn lại tôi và ngọn gió nồm nam

    Gọi tên anh trong bao thầm lặng

    Nghe tình mình ngày càng xa ... xa vắng

    Nghe hồn mình chừ hoang phế rong rêu.

     

    Gọi tên anh trong nỗi nhớ hắt hiu

    Ngày anh đi sương mờ nhoè phố xá

    Trên vai anh giọt mưa nào cũng lạ

    Nói điều gì cũng sợ gió bay đi ! ...

     

    Từng giọt buồn, từng giọt ướt mi

    Đã đọng lại – Đã hoá thành nỗi nhớ.

    Đã theo tôi vô tình như bão tố

    Một mình tôi vụng dại chốn hoang đường...

     

                                      Nguyễn Thị Thu

                                    Nguyên giáo viên trường

                                       Năm 2004 - 2009

                      

     

                       

     

     

     

     

     

     

                                    

     

     

     

    MỘT TIẾNG LÒNG

                                                            Nguyễn Mạnh

     

    Khói lam chiều đồng quê ai thả ?

    Lửng lơ ... vằng vặc mảnh trăng quê

    Chợt câu ca dao, lời ru mẹ vọng về

    Đón nỗi nhớ lòng con về quê cũ

    Quê cũ tảo tần... một đời lam lũ

    Vai mẹ già gánh nặng lo toan

    Vầng trán cha hằn nếp gấp dọc gấp ngang

    Của năm tháng và tình thương con trẻ ...

    Lòng biết lòng thương cha... nhớ mẹ...

    Nên ngậm ngùi trên từng bước chân xa

    -Điều duy nhất khiến lòng con đau khổ

    Xao xác lòng con – rừng chiều lá đổ

    Gọi “ QUÊ HƯƠNG  ”  trong tiếng nấc giữa lòng.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

              

     

     

     

        Em đầu núi, anh cuối đèo

    Ra đi vì lẽ ươm gieo mầm đời

       Đến đây, hồn thấy thảnh thơi

    Chim ca suối hát khắp nơi rộn ràng

       Giọng thầy, cô giảng vọng vang

    Trò qua giờ học, râm ran nói cười

       Rừng cây, bãi đa,ù đất trời...

    Vui không kể hết bằng lời được đâu!

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Phước Tỉnh @ 20:48 31/03/2012
    Số lượt xem: 2012
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    http://toai73.violet.vn/

    Tùng Toại kính chúc quí thầy cô giáo:

     

    Sức khỏe vô biên, thành công liên miên,
    hạnh phúc triền miên, túi luôn đầy tiền,
    sung sướng như tiên.Chúc mừng năm mới.

    Avatar

    Cảm ơn anh đã ghé thăm nhà em . Nhà em ở Duy Châu - Duy Xuyên - Quảng Nam , gần tháp  Mỹ Sơn đó anh . Nếu có dịp mời anh đến với gia đình em một lần. Tụi em rất vui khi được đón tiếp vợ chồng anh . 

     
    Gửi ý kiến

    HỌC HÀNH

    HỌC TOÁN LỚP 1

    BIỂN VÀ EM